Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Thoát vị đĩa đệm và các quan niệm sai lầm

Trên thực tế, nhiều người bệnh có những quan niệm sai lầm nhập viện trong tình trạng đau tê chân, có dấu hiệu teo, khó khăn trong việc đi lạị. Vì vậy, khi phát hiện bệnh, phải tuân thủ những chỉ định của bác sĩ để kịp thời tránh nguy hiểm cho người bệnh.

Đau thắt lưng lan xuống chân: cảnh báo khi chơi thể thao

Bệnh nhân Nguyễn Văn T. (nam, 40 tuổi, nhân viên văn phòng) mỗi ngày trung bình ngồi trên 8 tiếng. Theo lời kể của bệnh nhân, cách đây 2 năm, bệnh nhân bắt đầu xuất hiện đau lưng khi ngồi và đứng trên 1 giờ, sau đó xuất hiện tê dần xuống đùi trái, cẳng chân trái phía bụng chân. Anh tự tập luyện thể dục ở nhà và uống thuốc Nam nhưng không đỡ mà đau chân còn thường xuyên hơn nhưng anh vẫn cố gắng chơi thể thao (tennis). Đi khám bệnh, bác sĩ chẩn đoán anh bị thoát vị đĩa đệm cho dùng thuốc, hạn chế vận động thi đấu đối kháng và phải sử dụng đai nẹp mềm lưng. Với suy nghĩ cần rèn luyện thể thao, anh vẫn tập tennis, trong một lần anh chơi tennis cố gắng nhoài người cứu bóng, anh đột ngột đau cứng lưng, đau tê dọc từ lưng xuống chân đến gót chân và các ngón chân, tê bì vùng hậu môn sinh dục và hạn chế đi lại vì rất đau, bí tiểu. Sau đó, anh T. được đưa đến Khoa Ngoại Thần kinh cột sống và Chấn thương chỉnh hình - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Sau khi khám và có kết quả chụp phim, bác sĩ kết luận anh bị vỡ đĩa đệm gây thoát vị đĩa đệm cấp tính di trú gây chèn ép đuôi ngựa phải mổ cấp cứu. Sau mổ, bệnh nhân được làm giảm đau nên không có bất kỳ biểu hiện đau nào, sau 5 ngày, bệnh nhân được bỏ giảm đau, có thể đi lại bình thường, có thể ra viện được. Đây chỉ là một trong nhiều trường hợp bị thoát vị đĩa đệm được các bác sĩ điều trị do những quan niệm sai lầm trong tập luyện.

Hình ảnh thoát vị đĩa đệm.

Hình ảnh thoát vị đĩa đệm.

Các biến chứng của thoát vị đĩa đệm

Sau giai đoạn đau thắt lưng cục bộ, bệnh nhân sẽ bị đau rễ thần kinh do quá trình tổn thương kích thích rễ thần kinh. Các cơn đau rễ thần kinh thường xuất hiện theo dải, kéo dài từ thắt lưng và lan rộng đến chân. Khi người bệnh ho, hắt hơi, di chuyển, đứng hoặc ngồi lâu cũng khiến cơn đau tăng mạnh. Trong quá trình di chuyển, người bệnh thường xuyên phải dừng lại một đoạn để nghỉ do các cơn đau xuất hiện nhiều lần, cản trở lớn đến các hoạt động thường ngày.

Biến chứng rối loạn cảm giác thường xảy ra ở những khoảng da tương ứng với rễ thần kinh bị tổn thương, phổ biến nhất là cảm giác nóng, lạnh và xúc giác. Rối loạn vận động: người bệnh có thể bị bại liệt ở 2 chân do rễ thần kinh chi phối. Rối loạn cơ thắt: biểu hiện lúc đầu là bí tiểu, sau đó tiểu không thể kiểm soát được, luôn có nước tiểu chảy rỉ ra do cơ thắt kiểu ngoại vi bị liệt không thể giữ nước tiểu.

Nhận biết có dễ?

Cơn đau do thoát vị đĩa đệm thường tái phát nhiều lần, mỗi đợt kéo dài khoảng 1-2 tuần, sau đó lại khỏi. Có khi đau âm ỉ nhưng thường đau dữ dội, đau tăng khi ho, hắt hơi, cúi. Ngoài ra còn có cảm giác kiến bò, tê cóng, kim châm tương ứng với vùng đau. Đối với thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, thường có triệu chứng như: Đau vùng cổ, gáy, vai, dọc theo cánh tay; Tê cánh tay, bàn tay, các ngón tay; Teo, yếu cơ cánh tay, ngón tay. Đối với thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, thường có triệu chứng như: Đau, tê vùng thắt lưng, mông, dọc theo đùi, cẳng chân, bàn chân; Teo, yếu cơ đùi, cẳng chân, bàn chân. Dần dần, đau trở nên thường xuyên, kéo dài hàng tháng nếu không được điều trị. Khả năng vận động của bệnh nhân bị giảm sút rõ rệt.

Cần tuân thủ chỉ định của bác sĩ

Tùy thuộc vào mức độ và những triệu chứng lâm sàng mà bác sĩ quyết định điều trị nội khoa hay chỉ định phẫu thuật. Đối với thoát vị mức độ nhẹ có thể dùng thuốc, thực hiện các bài tập, vật lý trị liệu phục hồi chức năng. Nếu thoát vị nặng, khối thoát vị chèn ép vào dây thần kinh có thể gây biến chứng như: liệt, teo cơ, rối loạn cơ tròn thì phẫu thuật là phương pháp giúp bệnh nhân giảm chèn ép và tránh các biến chứng do thoát vị gây ra. Hiện nay, có nhiều phương pháp điều trị như làm giảm áp lực nhân đĩa đệm như: đưa sóng radio vào vùng đĩa đệm thoát vị làm cho khối thoát vị bị thu nhỏ, trở về vị trí cũ, giải phóng thần kinh bị chèn ép; dùng hiệu ứng nhiệt của tia laser để hủy phần đĩa đệm thoát vị, giải phóng chèn ép thần kinh; Lấy nhân đệm bằng phương pháp mổ hở, mổ nội soi...

Thông thường thì nếu bệnh ở giai đoạn đầu, các triệu chứng ít xuất hiện hoặc cơn đau không dai dẳng, không phải cơn đau cấp thì có thể điều trị bằng phương pháp bảo tồn dùng thuốc có tác dụng giảm đau và giảm co thắt cơ bắp. Nghỉ ngơi tại giường trong một tư thế thoải mái khiến cho bạn cảm thấy bớt đau hơn nhưng cũng cần chú ý không nên nằm quá lâu.

Vật lý trị liệu có thể bao gồm liệu pháp dùng nhiệt, siêu âm và kéo giãn.Trong trường hợp điều trị bảo tồn không mang lại kết quả, bệnh nặng hơn thì cần được chỉ định điều trị ngoại khoa. Phẫu thuật giúp loại bỏ một đĩa đệm bị thoát vị khi người bệnh cảm thấy tê, yếu không vận động được. Điều trị nội khoa thất bại sau 5-8 tuần. Gây chèn ép thần kinh cấp tính. Thoát vị đĩa đệm gây rách bao xơ, thoát vị di trú. Ngoài ra, còn có một trường hợp đặc biệt cần can thiệp mổ cấp cứu. Chính vì vậy, ở giai đoạn đầu, bệnh nhân cần tuân thủ các chỉ định của bác sĩ về chế độ ăn, tập luyện và vật lý trị liệu... Không điều trị, tập luyện theo mách bảo, tránh được những hệ lụy.

Lời khuyên của thầy thuốcVới biểu hiện đau thắt lưng tái đi tái lại nhiều lần, đau tăng khi lao động, nghỉ ngơi có đau cùng với tê bì xuống mông, chân một hoặc hai bên thì 80% là đã bị thoát vị đĩa đệm cột sống. Với thoái vị đĩa đệm cột sống phát hiện sớm thì 90% là dùng thuốc kết hợp với tập luyện đúng và thay đổi thói quen sinh hoạt thì bệnh sẽ không gây chèn ép thần kinh, có thể khỏi bệnh. Đặc biệt là ở người trẻ thì cần hạn chế những môn thi đấu đối kháng hoặc phải sử dụng đai mềm cột sống chơi thể thao nếu được sự đồng ý của bác sĩ. Nếu để thoát vị đĩa đệm có biến chứng chèn ép đuôi ngựa (tê bì vùng hậu môn sinh dục, bí đại tiểu tiện), tổn thương rễ thần kinh (teo chân, tê bì, kim châm ở chân) hay dùng thuốc trên 6 tuần không đỡ thì phải mổ; càng để tổn thương rễ thần kinh nặng thì cơ hội hồi phục sau mổ sẽ kém hơn nhiều.

TS.BS. Nguyên Vũ (Bệnh viện Đại học Y Hà Nội)

Thời tiết nắng nóng dễ bị rối loạn tiêu hóa

Chế độ ăn là nguyên nhân chính gây rối loạn tiêu hóa

Chế độ ăn uống là nguyên nhân phổ biến nhất dẫn đến rối loạn tiêu hóa: quá nhiều đồ ngọt, nhiều tinh bột dẫn đến hiện tượng lên men tăng mạnh gây ra đầy hơi, khó tiêu; Mất cân bằng hệ sinh thái vi sinh vật hay còn gọi là “loạn khuẩn”: do dùng kháng sinh không đúng theo hướng dẫn; Nghén trong thời kỳ mang thai; Stress, căng thẳng thần kinh và các yếu tố tâm lý, xã hội khác. Do các bệnh lý như viêm tá tràng, loét dạ dày, sỏi thận, viêm ruột thừa cấp tính, viêm ruột cấp tính, viêm đại tràng co thắt... Trong mùa hè, khí hậu nắng nóng rất dễ làm cho thực phẩm bị ôi, thiu nên nếu không bảo quản tốt cũng rất dễ gây ra rối loạn tiêu hóa.

Dấu hiệu chung khi bị bệnh

Đau bụng

Các cơn đau bụng với mức độ tùy vào từng cá nhân, từ đau nhẹ đến đau quằn quại như dao cắt. Người bệnh có thể đau nhẹ và liên tục hoặc co thắt thành từng cơn. Cơn đau thường xuất hiện ở vùng bụng dưới bên trái, đôi khi cũng có thể đau ở các vị trí khác. Một số trường hợp hiếm có thể đau lan ra sau lưng. Triệu chứng tiêu biểu có thể kể đến là đầy hơi, sình bụng, bụng căng to, thường xuyên ợ hơi. Một số triệu chứng khác có thể có như ợ chua, đắng, hôi miệng, buồn nôn, nôn mửa...

Táo, lỏng, lỵ, nôn mửa

Phân táo: phân khô, thành cục nhỏ, số lượng ít dưới 200g/24h, 2-3 ngày đi một lần, khó đại tiện. Phân lỏng: phân nhão, lỏng nhiều nước ngày đi trên 2 lần số lượng nhiều hơn bình thường. Kiết lỵ: thể đặc biệt của táo bón. Ngày đi nhiều lần, luôn có cảm giác mót rặn, mỗi lần đi lượng phân ít chủ yếu nhày máu, thậm chí mót đi ngoài mà không ra phân.

Nôn mửa là sự tống ra khỏi dạ dày qua miệng một phần hoặc toàn bộ thức ăn, dịch chứa trong dạ dày.

roi loan tieu hoa

Các biểu hiện khác

Mất nước, điện giải: khát, da khô lạnh, nhăn nheo, mắt trũng, đái ít, chuột rút. Nhiễm khuẩn, nhiễm độc: sốt, môi khô, mạch nhanh nhỏ, huyết áp tụt hoặc mất mạch, xẹp mạch. Suy dinh dưỡng: nếu bị nhiều ngày sẽ ảnh hưởng tới hấp thu thức ăn, gây thiếu máu, gầy tọp nhanh, da khô, phù, tróc vẩy, lông tóc thưa, rụng.

Xét nghiệm cần thiết

Xét nghiệm phân: sinh hoá, tế bào, vi khuẩn, ký sinh trùng. Thăm dò hậu quả đi lỏng: urê, hematocrit, protit, điện giải.

Nhiễm độc thức ăn do Salmonella

Nhiễm khuẩn nhiễm độc ăn uống do ăn phải thức ăn đã bị ô nhiễm bởi vi khuẩn gây bệnh. Điển hình là nhiễm khuẩn nhiễm độc thức ăn do salmonella, hay gặp ở các nước nhiệt đới, dân trí thấp, kinh tế kém phát triển.

Nguồn gây bệnh chủ yếu là từ súc vật bởi vi khuẩn salmonella có ở trong phân và nước tiểu của lợn, gà, vịt, chim, chuột, mèo, chó... Khuẩn này còn có trong trai, sò, hến, cua, ghẹ, cá… và có thể ở cả máu động vật. Bên cạnh đó, người mang khuẩn lành hoặc người bệnh trong thời kỳ hồi phục có thể là nguồn lây.

Bệnh chủ yếu lây bằng đường tiêu hóa, khi ăn các thức ăn có nguồn gốc động vật bị ô nhiễm salmonella như thịt, đặc biệt thịt tái, sống, sữa, trứng (gà, vịt), trai, sò, hến nấu chưa chín... Khi dùng rau sống, hoa quả, nước uống bị nhiễm salmonella bởi phân người và súc vật.

Bệnh này thường gặp ở trẻ nhỏ, người già có sức đề kháng yếu. Những người không có axit dạ dày do cắt dạ dày hoặc dạ dày thiểu toan thường dễ mắc bệnh hoặc những người bị suy giảm miễn dịch.

Cách nhận biết

Từ khi nhiễm vi khuẩn salmonella đến khi khởi phát tình trạng nhiễm độc trung bình từ 12 đến 36 giờ. Khởi phát thường đột ngột, đôi khi có thể từ từ với nhiều bệnh cảnh khác nhau. Mức độ nhẹ, người bị nhiễm độc không sốt, đi ngoài phân lỏng vài lần, bụng hơi đau. Mức độ vừa và nặng với biểu hiện nhiễm khuẩn nhiễm độc (sốt 380C - 400C, có lúc có cơn rét run, đau đầu, đau mỏi cơ khớp số lượng bạch cầu thường tăng. Cấy chất nôn, thức ăn thừa salmonella dương tính; Viêm dạ dày, tiểu tràng cấp: đau bụng vùng thượng vị và quanh rốn, đôi khi đau lan toả khắp bụng, sôi bụng). Buồn nôn và nôn nhiều lần, chất nôn là thức ăn chưa tiêu lẫn dịch dạ dày, không có máu, thường nôn trước. Đi ngoài nhiều lần trong ngày, dễ đi như tháo cống không mót rặn, đi ngoài thường sau nôn. Phân nhiều nước, có thể lẫn thức ăn chưa tiêu, thông thường phân không có nhầy, máu, nhưng khi có kèm với viêm đại tràng thì phân cũng có thể lẫn ít nhầy và máu giống như trong bệnh lỵ. Mất nước điện giải (khát nước, môi khô, mắt trũng, gầy sút, vẻ mặt hốc hác nếu nặng hơn thì mạch nhanh, nhỏ, huyết áp tụt, kẹt, thiểu niệu, vô niệu, bụng chướng, chuột rút, chân tay lạnh, trẻ nhỏ thóp trũng, khóc không có nước mắt...).

Với cơ thể khỏe mạnh thường tự khỏi bệnh sau 2 - 3 ngày, đôi khi đi ngoài phân lỏng có thể kéo dài tới 1 tuần. Có thể gặp tử vong ở các đối tượng như trẻ nhỏ suy dinh dưỡng, người già yếu do mất nước điện giải hoặc nhiễm khuẩn huyết. Ngoài ra nếu nặng hơn là thể nhiễm khuẩn huyết với biểu hiện sốt kéo dài, nhiễm độc thần kinh nặng có typhos, bụng chướng, gan lách to. Thể này có tiên lượng nặng, đặc biệt ở các bệnh nhân AIDS hay tái phát và có thể xuất hiện trước khi chẩn đoán được AIDS.

Bệnh được chữa thế nào?

Đối với bệnh cảnh nhiễm độc do salmonella, nguyên tắc điều trị đầu tiên là điều trị triệu chứng với việc bù nước, điện giải bằng các dung dịch đẳng trương đường uống hoặc đường truyền tĩnh mạch, hạ sốt, an thần, chống dị ứng, vitamin các loại, nâng đỡ cơ thể. Điều trị đặc hiệu bằng kháng sinh theo kháng sinh đồ để đạt hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, đa số các tác giả cho rằng điều trị kháng sinh (ở thể nhẹ, vừa) là không cần thiết vì không làm rút ngắn thời gian bị bệnh mà còn làm tăng thời gian mang trùng ở thời kỳ lại sức, cho nên với cơ địa tốt chỉ điều trị triệu chứng như cân bằng nước điện giải (đặc biệt ở trẻ nhỏ, người già); Hạ sốt, an thần, chống đi ngoài phân lỏng nếu cần thiết. Ở những người bị suy giảm miễn dịch hoặc những thể nặng ở người già có thể dùng kháng sinh ampicilin.

Để hạn chế nguy cơ lây nhiễm cần phòng bệnh, không để người mang khuẩn làm ở xưởng chế biến thực phẩm, làm đồ chơi trẻ em. Bảo đảm khâu vệ sinh công nghiệp thực phẩm và nội trợ. Với cá nhân phòng bệnh tốt nhất bằng vệ sinh ăn uống.

roi loan tieu hoaVi khuẩn Salmonella trong đường tiêu hoá.

Nhiễm khuẩn, nhiễm độc thức ăn do tụ cầu

Nhiễm khuẩn nhiễm độc thức ăn do tụ cầu là bệnh rối loạn tiêu hoá cấp tính do ăn phải thức ăn đã nhiễm ngoại độc tố ruột của tụ cầu. Bệnh cảnh lâm sàng chủ yếu là đau bụng vùng thượng vị, nôn, đi ngoài phân lỏng, hầu như không sốt. Diễn biến cấp tính, kết thúc nhanh, gọn.

Nguồn bệnh: Bệnh là những người bị viêm họng, viêm xoang, đang có các ổ mủ trên da (mụn, nhọt...) do tụ cầu hoặc là ổ súc vật như bò, dê, bị viêm vú làm ô nhiễm sữa khi vắt sữa. Tụ cầu sau khi ô nhiễm vào thức ăn 4 - 5 giờ đã sản sinh ra ngoại độc tố ruột. Ngoại độc tố này khi vào dạ dày, ruột không bị men tiêu hóa phá huỷ, chúng nhanh chóng thấm vào niêm mạc dạ dày, ruột và máu tác động lên hệ thần kinh thực vật làm cường phó giao cảm, gây tăng co bóp dạ dày - ruột dẫn đến đau bụng quặn, nôn, đi ngoài phân lỏng và có thể truỵ tim mạch.

Triệu chứng lâm sàng: Từ lúc nhiễm độc tố đến khi bị bệnh thường ngắn, từ 30 phút đến 6 giờ, trung bình là 2 - 4 giờ. Bệnh thường đột ngột và đi vào giai đoạn toàn phát ngay với biểu hiện đau bụng dữ dội, đau quặn từng cơn ở vùng thượng vị nhiều hơn vùng rốn. Người bệnh buồn nôn và nôn mửa nhiều lần, thường xuất hiện sớm, trước khi đi ngoài phân lỏng. Đi ngoài phân lỏng thường xuất hiện sau nôn, nhưng có tới 50% số trường hợp không có biểu hiện này. Người bệnh có thể không sốt hoặc sốt nhẹ, nhức đầu, mệt mỏi, vã mồ hôi. Nguy cơ mất nước, nặng có thể dẫn tới truỵ tim mạch. Bệnh tiến triển thường rầm rộ nhưng hồi phục nhanh chóng. Chỉ gặp tử vong ở trẻ nhỏ, người già yếu, suy kiệt do mất nước điện giải nặng.

Không có biện pháp đặc trị

Đối với bệnh lý nhiễm khuẩn nhiễm độc thức ăn do tụ cầu gây rối loạn tiêu hóa thì không có biện pháp điều trị đặc hiệu nhưng người bệnh cần được bổ sung nước, điện giải cho đủ là quan trọng (uống, truyền) để tránh mất nước quá nhiều gây ra nguy cơ trụy tim mạch, có thể dẫn đến tử vong.

Để hạn chế khả năng bị bệnh không để những người bị viêm xoang, viêm mũi họng làm nghề chế biến thực phẩm và nấu ăn nhằm tránh lây lan vi khuẩn khi nấu nướng; Bảo quản tốt các thức ăn đã chế biến. Không sử dụng thức ăn có biểu hiện ôi, thiu.

ThS. Trần Hải Yến

Biểu hiện của bệnh cường giao cảm

Vũ Thị Diệu (Nam Định)

Biểu hiện của bệnh cường giao cảm

Tim đập nhanh, tay chân run rẩy, mặt đỏ lên khi đứng trước đám đông, khi tức giận... là biểu hiện của tình trạng cường giao cảm của hệ thống thần kinh thực vật. Đây không phải là bệnh cấp tính nguy hiểm, nhưng nếu tình trạng này tiếp diễn nhiều lần và trong một thời gian dài, người bệnh rất dễ bị tăng huyết áp và dẫn đến các biến chứng nặng nề. Vì thế, bạn cần sớm điều trị bệnh của mình, tuy nhiên, việc điều trị không đơn giản vì ngoài yếu tố thần kinh, bệnh nhân còn chịu sự chi phối của cả yếu tố di truyền và thể chất. Bệnh nhân ngoài việc dùng thuốc sẽ được áp dụng thêm một số phương pháp điều trị khác như tập thiền, yoga; tập tự chủ và bình tĩnh trước mọi tình huống; tránh sử dụng các loại thức ăn và đồ uống có chất kích thích như thuốc lá, rượu, cà phê, gia vị có tính cay nóng quá mức...

BS. Thanh Xuân

Trẻ bị viêm đường tiết niệu, dùng thuốc gì?

Xin hỏi với bệnh lý này tôi nên dùng thuốc gì cho con?

Nguyễn Hoàng Lan (Ninh Bình)

Viêm đường tiết niệu là một bệnh lý thường gặp ở trẻ em với các biểu hiện đi tiểu nhiều lần trong ngày, lượng nước tiểu ít, có thể có màu vàng đục, mùi khai. Trẻ có biểu hiện khó chịu, đau đớn khi đi tiểu. Bên cạnh đó, trẻ có thể biếng ăn, tinh thần bất ổn, mệt mỏi, nôn mửa, sụt cân, có khi sốt cao hoặc xảy ra tình trạng thân nhiệt giảm. Mầm bệnh chủ yếu là do vi khuẩn Ecoli hoặc một số dạng kí sinh trùng, vi khuẩn, virut khác ở sẵn trong cơ thể nhưng do một nguyên nhân nào đó mà các lợi khuẩn mất đi, các tác nhân này phát triển và gây nên tình trạng viêm nhiễm đường tiết niệu. Ngoài ra, với bé gái, tình trạng niệu đạo ngắn, lỗ tiểu gần với hậu môn tạo điều kiện cho vi khuẩn dễ xâm nhập từ hậu môn vào niệu đạo là yếu tố nguy cơ cao gây nhiễm khuẩn.

Tùy vào tình trạng bệnh và nguyên nhân gây ra sẽ có biện pháp điều trị và các loại thuốc khác nhau cho phù hợp. Ở giai đoạn bệnh nhẹ, có thể sử dụng kháng sinh thông thường nhưng hiệu quả như amoxicillin, bactrim, trimethoprim... Khi bị nhiễm khuẩn nặng cần phải kết hợp 2 kháng sinh tiêm trong thời gian từ 3-5 ngày đầu để đạt hiệu quả điều trị. Trong đó, các thuốc có thể được sử dụng là cephalosporin hoặc amoxicillin tiêm phối hợp aminoside (với aminoside cần rất thận trọng vì thuốc rất độc cho thận, thần kinh thính giác, thần kinh thị giác), cephalosporin thế hệ 3 (liều phù hợp cân nặng và tuổi)… Với thể viêm đường tiết niệu chỉ có viêm bàng quang đơn thuần, có thể chọn bactrim, biseptol. Cần tránh kháng sinh nhóm fluoroquinolon vì ảnh hưởng xấu tới sụn xương và gây độc thận ở trẻ. Để hỗ trợ giúp cải thiện bệnh nhanh hơn bạn nên cho con uống nhiều nước và không được nhịn tiểu...

Như vậy, để xác định chính xác bệnh, chị cần đưa con đi khám, làm xét nghiệm xác định nguyên nhân và mức độ bệnh để dùng thuốc hợp lý, tránh gặp phải những tác dụng không tốt của thuốc với cơ thể.

BS. Nguyễn Văn Đức

Hết chóng mặt với phương pháp bấm huyệt

Chóng mặt là tình trạng cơ thể có cảm giác choáng váng, xây xẩm thường kèm theo đau đầu và buồn nôn. Nguyên nhân gây ra triệu chứng này rất đa dạng, có thể xuất pháp từ việc ăn uống không hợp lý, thiếu chất, mất ngủ hay áp lực, căng thẳng.

Những người bị chóng mặt thường khó thích nghi với tình trạng cơ thế mất thăng bằng và thường bị chóng mặt khi thay đổi tư thế. Vì thế trước khi tìm kiếm cho mình một phương pháp trị chóng mặt, bạn nên chú ý tránh những trò chơi, môn thể thao gây chóng mặt như tàu lượn, nhảy cao… và tránh thay đổi tư thế đột ngột khi làm việc và nghỉ ngơi.

Với phương pháp bấm huyệt trị chóng mặt, một số huyệt thường được áp dụng như: An miên, thái khê, thái xung, thính cung. Mỗi ngày, bạn có thể thực hiện bấm huyệt 1-2 lần, mỗi huyệt 1-3 phút. Bạn có thể thực hiện thường xuyên biện pháp này hoặc thực hiện ngay khi cảm thấy chóng mặt cảm nhận hiệu quả.

Cách xác định các huyệt

- Huyệt an miên: có vị trí nằm ở sau tai, bên cạnh xương lồi, cách tai tầm 1,5cm. Huyệt an miên có tác dụng an thần, định chí, chống rối loạn thần kinh thực vật, gây ngủ... Thường được áp dụng để chữa các bệnh hoa mắt chóng mặt, mất ngủ...

- Huyệt thái khê: Thái khê là huyệt có vị trí nằm ở cổ chân. Để xác định vị trí huyệt này, cần tìm điểm giữa của đường thẳng nối đỉnh mắt cá trong với bờ ngoài gân gót. Huyệt có tác dụng tư thận, thanh nhiệt, tráng nguyên dương... huyệt này thường dùng phối hợp với huyệt an miên, thái xung để chữa hoa mắt chóng mặt rất hiệu quả.

- Huyệt thái xung: Có vị trí nằm ở kẽ ngón chân cái và ngón chân thứ 2, cách kẽ ngón chân dịch thẳng lên mu chân khoảng 3 - 4cm ở người lớn. Khi bấm huyệt này, bạn hãy dùng đầu ngón tay cái miết từ kẽ ngón chân lên trên, khi ngón tay mắc lại do vướng vào kẽ của hai xương bàn chân, đấy chính là vị trí của huyệt thái xung.

- Huyệt thính cung: Có vị trí nằm ở phía trước bình tai. Huyệt thường được chọn dùng để chữa các bệnh về tai, do triệu chứng chóng mắt thường có liên quan đến tai. Kết hợp giữa thái khê, thái xung phối hợp với an miên, thính cung là cách điều trị chóng mặt hiệu quả.

Ngoài việc thực hiện biện pháp bấm huyệt, bạn cũng nên kết hợp với việc thay đổi lối sống để giảm chóng mặt nhanh hơn. Bởi nguyên sâu xa của chứng chóng mặt chính là dinh dưỡng và lối sống. Hãy tạo cho mình một chế độ ăn hợp lý, ngủ đủ giấc và tránh xa những áp lực để có thể tạm biệt chứng chóng mặt.

Nhưng nếu bạn muốn hết chóng mặt nhanh hơn và hạn chế những ảnh hưởng đến cuộc sống và công việc. Lựa chọn việc dùng thuốc cũng là một ý kiến hay. Tuy nhiên cần chú ý chọn những thuốc có thành phần acetyl-DL-leucine và của các thương hiệu uy tín để đảm bảo hiệu quả.

Chúc bạn sớm thoát khỏi chứng chóng mặt đáng ghét!

Thuốc gì cải thiện chứng quên ở bệnh nhân trầm cảm?

Mong bác sĩ giải thích về tình trạng này, có thể dùng thuốc gì để cải thiện tình trạng quên này? Xin trân trọng cảm ơn bác sĩ!

Nguyễn Thuý Na (Đăk Lăk)

Tư vấn dùng thuốc cho bệnh nhân. Ảnh: TM

Tư vấn dùng thuốc cho bệnh nhân. Ảnh: TM

Có nhiều nguyên nhân gây ra suy giảm trí nhớ, trong đó, nguyên nhân hay gặp là do trầm cảm. Trầm cảm rất hay gặp ở lứa tuổi 45-65, nhất là ở nữ, tỷ lệ lên đến 25-50% số người. Về rối loạn trí nhớ do trầm cảm ở tuổi của bạn là triệu chứng không thể thiếu ở bất cứ bệnh nhân nào. Bệnh nhân hay quên, hay than phiền bỏ đâu quên đó, vừa định làm một việc gì đó nhưng lại quên mất ngay. Đôi khi họ gặp người quen mà không sao nhớ ra được tên người đó. Tuy nhiên, người bệnh chủ yếu là quên trí nhớ gần, nghĩa là quên những việc vừa mới xảy ra, còn những việc diễn ra đã lâu như tên, tuổi, quê quán… thì họ vẫn nhớ tốt. Chính vì dễ quên nên người bệnh không thể học tập, tiếp thu được các kiến thức mới dù đơn giản, rất khó tập trung vào một việc gì đó…

Để cải thiện tình trạng hay quên ở bệnh nhân trầm cảm, bác sĩ có thể dùng các thuốc chống trầm cảm thế hệ mới như sertraline, paroxetine và excitalopram… Các thuốc này tuy ít tác dụng phụ hơn so với các thuốc chống trầm cảm cổ điển nhưng khi dùng thuốc người bệnh vẫn có thể cảm thấy đầy bụng, buồn nôn, khô miệng, đắng miệng, uể oải, chóng mặt nhẹ... trong khoảng 1 tuần đầu sau khi dùng thuốc. Tuy nhiên, các triệu chứng này sẽ nhanh hết. Tác dụng của thuốc lại chỉ có được sau 2 - 3 tuần dùng thuốc và phải sau 2 - 3 tháng người bệnh mới cảm nhận được sự cải thiện rõ rệt không chỉ về trí nhớ mà cả giấc ngủ và sự ngon miệng. Những triệu chứng như bi quan, chán nản, bồn chồn, khó chú ý cũng gần như không còn.

Đối với người bệnh trầm cảm, có khi phải uống thuốc chống trầm cảm trong suốt phần đời còn lại vì nếu bỏ thuốc thì bệnh cũng quay lại gần như ngay lập tức.

Tốt nhất bạn nên đi khám và chia sẻ tình trạng này với bác sĩ điều trị của mình để được tư vấn, chỉ định dùng thuốc chính xác, phù hợp nhất với bạn.

PGS.TS. Bùi Quang Huy

(Chủ nhiệm Khoa Tâm thần Bệnh viện Quân y 103)

Cảnh báo của chuyên gia: Nhiều bệnh nhi “dính” sởi mắc thêm bệnh vì gia đình chăm sóc sai

PGS.TS Bùi Vũ Huy, Trưởng khoa Nhi, BV Bệnh Nhiệt đới TƯ cho biết, trong 7 tháng qua, khoa Nhi của bệnh viện đã tiếp nhận 34 trẻ bệnh sởi. Hầu hết các bé dưới 5 tuổi, 100% chưa được tiêm vắcxin phòng bệnh. Lý do là đến tuổi tiêm thì trẻ ốm hoặc có trường hợp mẹ sợ nguy hiểm nên không cho con tiêm. Đặc biệt, Khoa Nhi hiện đang điều trị cho hai trường hợp trẻ song sinh 11 tháng bị viêm phổi nặng di biến chứng sởi.

Chia sẻ từ thực tiễn nghề nghiệp, PGS.TS Bùi Vũ Huy cho hay, bản thân ông từng gặp rất nhiều mẹ chăm sóc con bị bệnh sởi một cách phi khoa học như kiêng ăn cho trẻ, kiêng gió và kiêng nước cho trẻ.

Trong khi, theo phân tích của BS Huy thì một đứa trẻ bị sởi là cơ thể mệt mỏi, thiếu sức đề kháng do đó, nếu mẹ kiêng cho con mắc sởi ăn các chất dinh dưỡng, thay vào đó chỉ ăn cháo trắng vì lo khó tiêu hoá, khiến cơ thể trẻ bị suy nhược, thiếu chất dinh dưỡng trầm trọng. Sức đề kháng của trẻ vì thế mà giảm đi, kéo theo thời gian điều trị kéo dài hơn và dễ lây nhiễm các bệnh khác...

Đối với kiêng gió và nước khi trẻ bị sởi, vị chuyên gia này cho hay, chính việc này dẫn đến trẻ không được vệ sinh sạch sẽ hàng ngày nên tỷ lệ viêm phổi của trẻ tăng lên. Vì kiêng gió, nên cha mẹ thường ủ kín cho con để tránh gió trong khi trẻ sốt cao, toát mồ hôi tại các vết ban gây ngứa ngáy, gãi trợt da gây nhiễm trùng.

PGS. TS Bùi Vũ Huy cũng kể lại câu chuyện cách đây nhiều năm mà đến giờ ông vẫn “sợ hãi”- đó là khi bản thân ông chứng kiến một trường hợp bệnh nhi mắc sởi và bị "cam tẩu mã”- rất nặng nề (vi khuẩn ăn hết xương hàm khiến toàn bộ răng của trẻ rụng) do cha mẹ kiêng nước, không vệ sinh răng miệng tốt khi con mắc sởi.

PGS.TS Bùi Vũ Huy: Các bà mẹ có con bị sởi cần chăm sóc trẻ khoa học, tránh kiêng cữ không cần thiết

“Buổi chiều khi vào buồng bệnh thăm bệnh nhi, ngửi thấy mùi rất lạ lan khắp cả phòng, giống như mùi chuột chết, cóc chết nhưng khi tìm theo hướng mùi phát ra từ giường 1 đứa trẻ. Ngay lập tức tôi chỉ định cho đi kiểm tra răng hàm mặt, tai mũi họng. Đến tầm 7h sáng hôm sau khi mở miệng trẻ kiểm tra bác sĩ cứ đụng đến đâu là xương hàm bệnh nhi mủn đến đó, kéo đến tận xương quai hàm, chỉ còn trơ mỗi lưỡi. Lúc này gia đình bệnh nhi mới nhận ra được cách chăm sóc con khi bị sởi sai lầm của mình...”- PGS.TS Bùi Vũ Huy kể lại.

Kết quả thăm khám và xét nghiệm cho thấy bệnh nhi bị “cam tẩu mã” do vi khuẩn fussobacterium, vi khuẩn prevotella và một số vi khuẩn khác gây nên khi cơ thể suy giảm miễn dịch, cộng thêm thiếu dinh dưỡng, vệ sinh răng miệng kém.

Theo PGS.TS Bùi Vũ Huy, “cam tẩu mã” xuất hiện rất đột ngột và diễn biến vô cùng nhanh. Ban đầu, bệnh nhân mắc chứng bệnh này thường có biểu hiện mệt mỏi, suy nhược, sốt cao. Nướu răng chảy máu, viêm loét và có dấu hiệu hoại tử.

Khi nướu và viêm mạc bị viêm loét rộng hơn, hơi thở sẽ có mùi hôi, mô hoại tử chuyển thành màu xám đen xung quanh nướu. Quá trình cuối cùng của bệnh là phá hủy các mô mềm và xương, gây biến dạng và rụng răng.

“Trường hợp của bệnh nhi mắc sởi bị “cam tẩu mã” kể trên lại là con của một bà mẹ sống ở nơi trung tâm hiện đại, trong khi trước đây nhiều năm chuyện này chỉ xảy ra với trẻ bị sởi ở vùng sâu, vùng xa vì không được chăm sóc và vệ sinh cẩn thận”- BS Huy nói

Theo BS Huy, chăm sóc trẻ bị sởi rất cần sự sáng suốt của bà mẹ, tuy nhiên không phải bà mẹ nào cũng làm được điều này, do đó, khi có trẻ vào nhập viện điều trị bệnh sởi, đặc biệt là trường hợp đã biến chứng, ngoài việc thăm khám, điều trị theo phác đồ, chúng tôi còn phải làm cả công tác truyền thông, hướng dẫn bà mẹ chăm sóc trẻ ra sao để trẻ đủ dinh dưỡng, để trẻ được vệ sinh cá nhân sạch sẽ...

Ngoài ra, để phòng bệnh sởi cho trẻ, các gia đình cần đưa con đi tiêm phòng theo đúng độ tuổi, đúng lịch tiêm chủng

PGS. TS Bùi Vũ Huy khuyến cáo: Các trường hợp mắc sởi cần phải được ở phòng thoáng, đủ ánh sáng, nghỉ ngơi, ngủ đủ, vệ sinh răng miệng. Tuyệt đối tránh các tập tục kiêng nước, kiêng gió, kiêng ăn.Khi trẻ mắc bệnh sẽ chán ăn, vì vậy nên để trẻ ăn đồ ăn lỏng, dễ tiêu, kết hợp tăng cường dinh dưỡng bằng các thức ăn giàu vitamin A.Nhỏ mũi, mắt bằng dung dịch nước muối sinh lý (NaCl 0,9%) hoặc dung dịch nhỏ mắt mũi 3-4 lần/ngày.Trẻ cũng cần uống đủ nước, nước oresil hoặc nước hoa quả. Khi trẻ tiêu chảy còn phải bổ sung nước hoặc cho bú nhiều hơn. Khi phát hiện các dấu hiệu bệnh nặng như mệt, li bì, kém ăn, khó thở, tiêu chảy, ho nhiều, ban lặn nhưng vẫn sốt... thì cần đưa trẻ đến các cơ sở y tế để điều trị kịp thời.

Thái Bình

Phòng rối loạn tuần hoàn não

Máu thực hiện các chức năng rất quan trọng đối với cơ thể như hô hấp (chuyên chở khí oxy và CO2 giữa phế nang và các tế bào), dinh dưỡng (ma...